Chuyển đổi số trong quản lý và lưu trữ di sản âm nhạc dân tộc

Dưới đây là những trăn trở đầy trách nhiệm của Nghệ sĩ ưu tú Hương Giang về việc "số hóa" linh hồn dân tộc. Bằng kinh nghiệm của một nhà giáo quân đội, cô khẳng định rằng nếu không nhanh chóng đưa di sản vào không gian số bằng một quy trình khoa học, chúng ta sẽ có lỗi với tiền nhân và đánh mất điểm tựa văn hóa cho thế hệ mai sau trong cuộc viễn chinh toàn cầu.

Di sản âm nhạc dân tộc không phải là những hiện vật chết nằm im lìm trong bảo tàng, nó là thực thể sống, là mạch máu li ti chảy từ quá khứ đến hiện tại và cần được tiếp sức để vươn tới tương lai. Với tôi, chuyển đổi số trong lĩnh vực này không chỉ là việc quét ảnh hay thu âm lại các làn điệu cổ, mà là một cuộc tổng tiến công về mặt công nghệ để bảo tồn mã định danh văn hóa của người Việt trên bản đồ số thế giới. Bạn hãy hình dung, khi một nghệ sĩ trẻ ở thế kỷ 22 muốn tìm về gốc rễ của một điệu Xoan hay một bản Ca trù, họ không thể lật lại những trang giấy đã ố vàng, họ cần một hệ sinh thái dữ liệu thông minh, nơi âm thanh, hình ảnh và cả bối cảnh văn hóa được tái hiện sống động nhờ công nghệ thực tế ảo. Đó chính là sứ mệnh mà những người làm giáo dục nghệ thuật như chúng tôi tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội luôn đau đáu, bởi di sản chỉ thực sự sống khi nó được tiêu dùng và tái sáng tạo trong lòng đời sống đương đại.

beauty-1772587830126-1775264957.jpeg

Thực trạng hiện nay cho thấy chúng ta đang chạy đua với thời gian trong một cuộc chiến không cân sức, khi những nghệ nhân bậc thầy – những "kho tàng sống" – đang dần ra đi, mang theo những bí truyền về kỹ thuật diễn xướng mà máy móc chưa kịp ghi lại hết. Công tác lưu trữ của chúng ta vẫn còn mang tính thủ công, tản mạn tại nhiều đơn vị và thiếu một chuẩn chung về dữ liệu để có thể liên thông toàn cầu. Đứng ở góc độ một giảng viên, tôi thấy xót xa khi tài liệu về âm nhạc truyền thống thường khô khan, thiếu tính hấp dẫn đối với giới trẻ, dẫn đến khoảng cách giữa di sản và công chúng ngày càng bị nới rộng. Khó khăn lớn nhất nằm ở kinh phí đầu tư cho các thiết bị số hóa chuyên dụng và đội ngũ nhân sự vừa am tường nghệ thuật cổ truyền, vừa thành thạo công nghệ cao, đó là những "chiến sĩ văn hóa số" mà chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng.

Thuận lợi duy nhất và cũng là lớn nhất chính là sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data), những công cụ cho phép chúng ta phục hồi những bản thu âm cũ nát hay tái tạo những nhạc cụ đã thất truyền qua không gian ba chiều. Giải pháp trực diện mà tôi đề xuất là phải xây dựng ngay một Ngân hàng dữ liệu âm nhạc quốc gia, nơi áp dụng công nghệ Blockchain để định danh và bảo vệ bản quyền cho từng làn điệu di sản. Chúng ta cần những dự án liên ngành, kết hợp giữa các chuyên gia âm nhạc dân tộc và các kỹ sư phần mềm để tạo ra các ứng dụng học nhạc cụ truyền thống trực tuyến, biến di sản thành một trò chơi khám phá hấp dẫn cho trẻ em. Đặc biệt, phải có chính sách đãi ngộ đặc biệt để khuyến khích các nghệ sĩ trẻ tại các trường nghệ thuật quân đội và dân sự tham gia vào việc phối khí lại các bản nhạc cổ trên nền tảng âm thanh điện tử hiện đại.

Kinh nghiệm quốc tế từ những quốc gia như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã cho thấy, họ không chỉ lưu giữ di sản mà họ còn "thương mại hóa" di sản một cách tinh tế thông qua các nền tảng số, biến văn hóa truyền thống thành một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận và sự nể trọng toàn cầu. Việt Nam cần học tập mô hình này bằng cách tích hợp di sản vào các sản phẩm giải trí số như Game, phim ảnh và các ứng dụng thực tế ảo tăng cường. Chỉ khi di sản trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo, nó mới có đủ nguồn lực để tự tái sinh. Bản trường ca văn hóa của chúng ta không được phép đứt đoạn, và công nghệ chính là nhịp cầu vững chắc nhất để giai điệu của cha ông tiếp tục vang xa, định danh một Việt Nam giàu bản sắc và không ngừng đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình ra biển lớn.