Tư liệu lịch sử nghề kính nghệ thuật Việt Nam

CHUYỆN NGHỀ: NHỮNG NĂM THÁNG KHAI SINH TRANH KHẮC KÍNH VINHCOBA 1990–2003

Những ngày đầu – mọi thứ đều phải tự làm

Nhìn lại những tấm gương COBA và những bức tranh khắc kính còn lưu giữ đến hôm nay, có lẽ ít ai hình dung được rằng phía sau chúng là cả một thời kỳ mà gần như mọi thứ đều phải tự nghĩ, tự làm và tự chế tạo.

1791113772352-8377297297985748416-g1849396334667413544-39a409e447e1c7c6a3c17d6a76632b99-1791172488.jpg

Đầu những năm 1990, làm kính nghệ thuật ở Việt Nam chưa có giáo trình để học, chưa có máy móc chuyên dụng để mua, cũng chẳng có một xưởng mẫu nào để đến tham khảo. Muốn mài được một bông hoa trên kính, trước hết phải nghĩ cách làm ra… viên đá mài kính.

Tôi còn nhớ những ngày đi tìm cao lanh, đất sét, thủy tinh lỏng, hạt mài; rồi tự làm khuôn sắt, đóng từng viên đá giống như người ta đóng gạch xỉ than. Hai người thợ cũ được mời về giúp xây lò, làm bao nung. Mẻ nung đầu tiên hồi hộp chẳng khác gì chờ một cuộc thử nghiệm lớn.

1791113772298-8377297297985748416-g1849396334667413544-8493604eb976249b05456434a9250c35-1791172488.jpg

Khi mở lò, khoảng 20 viên đá mài đường kính 150 mm hiện ra nguyên vẹn. Mừng không thể tả!

Có đá rồi lại chưa có máy. Tôi tiếp tục đi tìm những bãi sắt vụn, lựa từng đoạn sắt có thể tận dụng, mang về thuê thợ hàn. Chiếc máy mài hai đầu đá đầu tiên được hình thành từ một bản thiết kế rất đơn sơ do chính tôi nghĩ ra.

1791113772328-8377297297985748416-g1849396334667413544-22744ae7f7202bf33481ec323188d069-1791172488.jpg

Không ai dạy cách mài hoa trên kính. Tôi cứ thử. Đá quay, kính chạy. Sai thì bỏ. Mẻ thì làm lại. Và rồi những cánh hoa đồng tiền, hoa cúc, hoa hồng, giàn nho lần lượt hiện ra trên những tấm kính tủ ly, trên gương tủ đứng.

Từ thực hành, tôi nhận ra rằng đường mài ba chiều thực chất có thể quy về chuyển động của hai cạnh và đỉnh viên đá. Tôi ký hiệu rất giản dị: D = O – I.

1791113772337-8377297297985748416-g1849396334667413544-051dc036c299dd4423513f416d066077-1791172487.jpg

Những kinh nghiệm ấy được biến thành các “công thức” để truyền lại cho thợ. Chỉ khoảng hai tuần, đội thợ mài năm người đã có thể tự làm sản phẩm.

Điều vui nhất không chỉ là họ làm được, mà là họ bắt đầu yêu nghề.

Khi chưa có decal, người thợ phải tự tìm cách làm khuôn

Bây giờ, muốn tạo hình trên kính, người thiết kế có máy tính, máy cắt, máy in và vô số vật liệu hỗ trợ. Nhưng thời ấy, chúng tôi chẳng có gì.

1791113772309-8377297297985748416-g1849396334667413544-018c7edb56f69d5c795da0824e145007-1791172487.jpg

Muốn phun cát một hình lên kính phải tự trổ khuôn. Tấm mica mỏng mua ở Hàng Mã được tận dụng. Phim X-quang cũ cũng trở thành vật liệu quý. Có những lúc chẳng kiếm được gì phù hợp, tôi dùng cả giấy dầu lợp mái nhà để làm khuôn.

Khổ tranh ban đầu khoảng 800 × 2.000 mm đã được xem là lớn. Sau này, khi tự chế tạo được súng phun cát cầm tay, giới hạn kích thước dần được phá bỏ.

1791113772318-8377297297985748416-g1849396334667413544-4ed1f219992eec981ec53a6f90d15b70-1791172487.jpg

Những chỗ ghép khuôn để lại dấu vết thì lại lấy dụng cụ mài cầm tay xử lý. Đá mài cũng tự chế thành nhiều kích thước, hình dạng khác nhau. Mài xong lại phun cát để xóa dấu mài.

Một công đoạn sinh ra một công cụ. Một khó khăn lại buộc người thợ nghĩ ra một cách làm mới.

1791113772283-8377297297985748416-g1849396334667413544-c111d07bdef3c9e8d0f5ca84db73d4cb-1791172487.jpg

Có lẽ chính hoàn cảnh thiếu thốn ấy đã hình thành một tính cách rất đặc biệt của nghề kính Vinhcoba sau này: không chờ công nghệ có sẵn mà tự tạo ra công nghệ mình cần.

Từ chiếc bút điện đến máy tính đầu tiên

Khoảng năm 1993, một người bạn ở số 6 Hàng Mành bắt đầu nhập decal Hàn Quốc về Việt Nam. Với tôi, đó là một bước ngoặt.

Nhưng có decal rồi lại phải nghĩ cách cắt. Tôi lấy bút điện, mài nhọn đầu để biến nó thành một con dao cắt decal. Những nét cắt nhờ vậy trở nên nhỏ, sắc và khúc triết hơn.

1791113772268-8377297297985748416-g1849396334667413544-06e4568ab87a8ad1301e9291772fc862-1791172487.jpg

Những mẫu có tính đối xứng như Gương Thiên thần, Dẻ quạt Tây Ban Nha… lại đặt ra một bài toán khác. Tôi phải vẽ một nửa mẫu, cắt, lật qua trục đối xứng, ghép lại rồi mới trổ nét.

Đến khoảng năm 1994, máy tính bắt đầu xuất hiện nhiều hơn ở Việt Nam. Tôi quyết định bỏ ra 13,5 triệu đồng mua một bộ máy tính – một khoản đầu tư rất lớn lúc bấy giờ.

Tôi tự học đồ họa. Từ cây bút chì, tờ giấy và những khuôn thủ công, mẫu tranh kính bắt đầu bước lên màn hình máy tính. Hình vẽ chuẩn hơn, tỷ lệ chính xác hơn, kho mẫu cũng lớn dần.

1791113772207-8377297297985748416-g1849396334667413544-985879de4b2642e3d662c5cf3bf68ce8-1791172487.jpg

Nhưng thiết kế được trên máy tính chưa có nghĩa là tự sản xuất được. Muốn cắt decal bằng máy, tôi vẫn phải mang file ra cửa hàng Đông Phong ở Nguyễn Thái Học thuê cắt.

Mãi đến năm 1996, khi có điều kiện mua chiếc Roland CX-24 của Nhật với giá khoảng 33 triệu đồng, một mắt xích quan trọng nữa mới được hoàn thiện.

Nhìn lại, con đường công nghệ ấy rất thú vị:

Giấy dầu → phim X-quang → mica → decal → bút điện → máy tính → máy cắt vi tính.

Đó cũng chính là lịch sử thu nhỏ của một thời kỳ hình thành nghề.

Sơn móng tay cũng từng trở thành màu của tranh kính

Màu sắc cũng là một câu chuyện.

Ban đầu không có sơn chuyên dùng cho kính. Chúng tôi tự pha màu, thử nhiều loại sơn khác nhau. Có lúc sơn móng tay cũng được đem ra thử nghiệm.

Khoảng năm 1993, nhờ quen một người bạn Hàn Quốc, tôi nhờ mua sơn kính từ xứ sở Kim Chi về. Từ đây, việc tạo màu thuận lợi hơn, tranh đẹp hơn và khả năng biểu đạt nghệ thuật trên kính mở rộng rõ rệt.

Khi kỹ thuật mài, phun cát, tạo hình, cắt decal và tạo màu đã dần làm chủ, tôi bắt đầu thử sức với nhiều dòng hội họa: Đông Hồ, tranh dân gian, thủy mặc Trung Hoa, trừu tượng, Phục Hưng, chân dung truyền thần…

Tôi không muốn kính chỉ là một vật liệu xây dựng. Tôi muốn chứng minh rằng kính cũng có thể trở thành một chất liệu hội họa của người Việt Nam.

Đại lý tranh kính đầu tiên và những bức tranh không bán

Đại lý tranh kính Vinhcoba đầu tiên được mở tại 294 đường Láng. Người đứng ra bán là anh Thanh – một người rất yêu tranh kính.

Nhưng chỉ khoảng hai năm sau, anh không may qua đời. Chị Huệ, vợ anh, đã quyết định không bán những bức tranh còn lại mà giữ chúng như một kỷ niệm.

Nếu những tác phẩm ấy còn được lưu giữ đến hôm nay thì chúng không đơn thuần là hàng hóa cũ. Chúng là những nhân chứng vật chất của buổi đầu tranh khắc kính Vinhcoba.

Thời đó, tranh kính vẫn là một sản phẩm xa xỉ. Hà Nội chưa có những khu đô thị, biệt thự và villa san sát như ngày nay. Không gian để đưa tranh kính nghệ thuật vào kiến trúc còn rất hạn chế.

Vì thế, khách nào mua tranh, tôi gần như còn nhớ.

Khi tranh khó bán, nghệ thuật đi vào chiếc gương

Thị trường nhỏ không làm chúng tôi dừng lại.

Nếu người dân chưa đủ điều kiện mua một bức tranh kính lớn, vậy thì đưa nghệ thuật vào một vật dụng mà gia đình nào cũng cần: chiếc gương.

Thế là hàng loạt sản phẩm ra đời: gương trang trí, gương phòng tắm, gương chống mốc ố, gương chống mờ hơi nước, gương đính hạt, gương mài gầm, gương mài di…

Khách hàng muốn đặt gương ở đâu trong ngôi nhà, chúng tôi có thể thiết kế cho chính vị trí ấy. Những chiếc gương COBA vì thế dần trở nên quen thuộc trên thị trường.

Có lúc vui nghề quá, tôi còn sáng tác bài hát “Gương COBA” với câu hát: “COBA tình đời, COBA tình người…”

Nghề đã đi vào cuộc sống của người thợ đến mức thành cả lời ca.

Công nghệ tranh khắc kính còn được ứng dụng vào một sản phẩm rất khác: bảng kính nghệ thuật, bảng kính ít bụi, phục vụ các trường đại học và trung học chuyên nghiệp.

“Tôi có hơn 500 mẫu, anh cứ từ từ mà học…”

Đến một thời điểm, kho mẫu tranh kính, gương nghệ thuật do Vinhcoba thiết kế đã vượt 500 mẫu.

Tôi nhớ một câu chuyện vui. Anh Quy – cũng làm gương – nói chuyện với anh Quang ở Kim Mã, nhà khu dốc Tam Đa, nhân dịp kỷ niệm một năm thành lập xưởng mài kính tự động. Anh Quy khoe rằng đã bắt chước được hai mẫu của Vinhcoba.

Tôi nghe vậy chỉ cười:

“Tôi có hơn 500 mẫu, anh cứ từ từ mà học…”

Đó là một câu nói vui của người làm nghề. Nhưng sau hơn ba mươi năm nhìn lại, tôi lại thấy trong đó một điều quan trọng hơn chuyện cạnh tranh.

Nếu một sản phẩm được người khác tìm cách học theo, nghĩa là nó đã bắt đầu có thị trường. Nếu một kỹ thuật được nhiều người học theo, nghĩa là nó có khả năng trở thành nghề.

Và nếu thế hệ sau tiếp tục cải tiến nó, thì cái mình tạo ra không còn chỉ thuộc về riêng mình nữa.

Những tấm kính còn lại là nhân chứng của một thời

Ngày nay, khi công nghệ kính nghệ thuật Vinhcoba đã đi rất xa, nhìn lại những chiếc gương COBA, những bức tranh khắc kính, những mẫu decal và dụng cụ còn sót lại từ giai đoạn 1990–2003, tôi không chỉ nhìn thấy sản phẩm.

Tôi nhìn thấy một thời đất nước còn nghèo.

Tôi nhìn thấy những bãi sắt vụn mà mình từng đi tìm vật liệu. Tôi nhìn thấy viên đá mài tự đóng, chiếc máy tự hàn, tấm phim X-quang cũ được biến thành khuôn tranh, chiếc bút điện được mài thành dao cắt decal.

Tôi nhìn thấy những người thợ đầu tiên.

Và tôi nhìn thấy một ước muốn rất giản dị của người thợ trẻ năm 1990: Người Việt Nam phải làm được kính nghệ thuật của chính mình.

Ba mươi sáu năm sau, những câu chuyện ấy có thể nghe rất nhỏ bé. Nhưng một nghề mới không bắt đầu bằng những nhà máy lớn hay những tấm huy chương. Nó thường bắt đầu từ một người thợ đứng trước một việc chưa biết làm, rồi tự nói với mình:

“Phải tìm cách làm cho bằng được.”

Câu chuyện tranh khắc kính Vinhcoba trước năm 2003 xin được khép lại ở đây. Nhưng câu chuyện về nghề kính nghệ thuật Việt Nam thì mới chỉ bắt đầu.

Tư liệu: Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh (Vinhcoba)